Tử vi Sơn Long
Tử Vi trung cấp

NGŨ HÀNH LỤC THẬP HOA GIÁP – 60 NĂM CUỘC ĐỜI

10-11-2019 | Tử Vi trung cấp | Admin

 Lục thập hoa giáp là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60. Cách tính năm, tháng, ngày, giờ đều theo hệ số đó, gọi là lịch can chi. Có 6 chu kỳ hàng can tức là có 6 giáp mà mỗi chu kỳ hàng can hay mỗi giáp gồm 10 can. Đó là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý nên gọi là Lục thập hoa giáp.

Lục Thập Hoa Giáp mang nội hàm sâu sắc. Cùng một tuổi cầm tinh nhưng vì nạp âm khác nhau, Thiên can bất đồng mà có những đặc điểm riêng. Dựa vào đó, xem Tử Vi đoán định cuộc đời hung cát. Qua bài viết này Tử Vi Sơn Long sẽ đi tổng quan về ý nghĩa từng ngũ hành Lục thập hoa giáp và sự kết hợp tốt xấu giữa các ngũ hành với nhau cho bạn đọc cùng nắm.

I. Lục thập hoa giáp mang Hành Kim:

 

6 hành kim

 

 
  1. HẢI TRUNG KIM tượng nạp âm của Giáp Tí và Ất Sửu là những báu vật dấu dưới Long cung cần phải mượn xung phá để phát hiện, chứ hỏa lực chẳng giúp ích gì cho nó. Phú có câu: Châu tàng uyên hải. Chính là ý nói Hải trung kim đã được phát hiện bằng xung phá vậy… Khi nó đã được phát hiện rồi thì bấy giờ mới cần đến một thế cực vượng hỏa để nung luyện như Tích Lịch hỏa.
  2. KIM BẠCH KIM tượng nạp của Nhâm Dần và Quí Mão là thứ kim đã hóa thành chất lỏng để đánh bóng những cột trụ đồ dùng trong cung thất. Kim bạch kim cần dựa vào Mộc nhất là thứ Bình địa mộc, rất sợ Lư trung hỏa vì nó thể chất bạc nhược không thể hoàn nguyên. Nếu hỏa đốt nó sẽ thành than, nhưng lại ưa Hỏa mặt trời làm nó sáng bóng lên chói lọi.
  3. BẠCH LẠP KIM tượng nạp âm của Canh Thìn, Tân Tỵ vốn là Côn Sơn phiến ngọc Lạc Phố đi châu (phiến ngọc ở núi Côn Sơn, ngọc quí ở đất Lạc Phố), được ngưng tụ nhật nguyệt chi tinh, âm dương chi khí cho nên hình nó sáng thể nó sạch, sắc rất đẹp. Bạch lạp kim cần Lư trung hỏa nhưng với điều kiện phải có thủy trợ. Nếu chỉ Lư trung hỏa mà thiếu thủy tất nó sẽ yểu tiết bần hàn.
  4. SA TRUNG KIM lượng nạp âm của Giáp Ngọ, Ất Mùi là chất kim quí dấu dưới cát, cần phải đãi rửa rồi dùng lửa lò nung luyện. Nếu cát khô quá tức là thổ tháo, chất kim không tốt. Lại nhờ mộc để đất rắn nuôi dưỡng kim chất cho hoàn hảo. Rồi tìm Thủy mà thanh lọc. Được như thế thì thiếu niên đã vinh quy.
  5.  KIẾM PHONG KIM tượng nạp của Nhâm Thân, Quí Dậu là chất kim cực quí cực rắn chắc, đã từng qua bách luyện cho nên hồng quang của nó ánh lên đến Ngưu Đẩu có thể ngưng đọng ở sương tuyết. Nó cần thủy để nhuận sắc nhưng phải là Đại khuê thủy. Nó cần hỏa để tôi luyện nhưng phải là loại Tích lịch hỏa lửa sấm sét để tạo linh khí.
  6. THOA XUYẾN KIM tượng nạp âm của Canh Tuất, Tân Hợi là bảo vật để điểm trang cho mặt thêm đẹp, thêm quyền quý đài các. Nó được cất dấu nơi khuê các. Cần tĩnh thủy Tuyền Trung thủy, Giản hạ thủy để trau chuốt là tốt nhất. Nếu bị nước mưa nguồn, nước biển sẽ làm nó yểu chiết bần hàn chìm rơi mất tích. Gặp hỏa bị hỏa diệt sẽ tàn thương.

II. Lục thập hoa giáp mang Hành Mộc:

  1. TANG ĐỐ MỘC tượng nạp âm của Nhâm Tí, Quý Sửu là cây dâu nuôi dưỡng loài tằm cho tằm nhả tơ óng chuốt để may quần áo dân gian thánh hiền. Nó cần Sa trung thổ mà xanh tốt, ưa Thiên hà thuỷ đem mưa ngọt, sương trong thấm nhuần gốc rễ. Các loại Thổ và Thủy khác giảm hiệu lực đi nhiều.
  2. TÙNG BÁCH MỘC tượng nạp âm của Canh Dần, Tân Mão. Cây tùng cây bách chịu đựng được tuyết sương giá lạnh. Cành cao vòi vọi, lá rộng xum xuê, gió thổi nghe rì rào như muôn ngàn ống sáo. Nó ưa đất vùng núi, Thiên hà thủy và Đại khê thủy. Tùng bách mộc rất sợ Lư trung hỏa đốt cháy nó. Thiếu Thủy nó sẽ yểu chiết.
  3. ĐẠI LÂM MỘC tượng nạp âm của Mậu Thìn, Kỷ Tị. Cây lớn trong rừng ngọn lên đến tầng mây, lá che cả ánh mặt trời. Nó cần Thổ nhiều và ưa Kiếm phong kim cưa xẻ, đẽo gọt thành dụng cụ. Nó cần Thiên thượng hỏa nuôi nấng. Nó cần Thủy nhưng nếu gặp Đại khê thủy hay Đại hải thủy sẽ bị úng rễ mà chết yểu.
  4. DƯƠNG LIỄU MỘC tượng nạp âm của Nhâm Ngọ, Quý Mùi là loại cây yếu đuối lả lướt trước gió như cây liễu bên bờ hồ. Nó cần Sa trung thổ dưỡng, nếu gặp Đại dịch thổ thì khó sống mà gặp Lộ bàng thổ tất mất vẻ cao sang. Nước nuôi dưỡng nó phải là thứ nước Tuyền trung thủy, nhẹ nhàng thấm xuống như nước suối.
  5. THẠCH LỰU MỘC tượng nạp âm của Canh Thân, Tân Dậu. Vị nó cay như gừng, hoa đỏ chót, trái đầy những hạt tượng trưng cho đa tử (đông con). Nó chính là cây lựu đá. Can chi thuần kim mà nạp âm lại là mộc cho nên nó là mộc biến ra vậy. Cho nên Thạch lựu mộc ưa Thổ đã thành khí như Thành đầu thổ hay Ốc thượng thổ.
  6. BÌNH ĐỊA MỘC tượng nạp âm của Mậu Tuất, Kỷ Hợi là cây non mới đâm cành trổ lá. Cần đến công trình của thủy nước mưa tưới tắm, rất sợ tuyết sương tác hại. Cần hỏa thái dương làm ấm áp. Nếu đa hỏa vô mộc tất sẽ yểu chiết lại ngại Kiếm phong sát phạt. Kim bạch kim rất hợp với Bình địa mộc vì thứ kim này khiến cho màu lá non thêm sáng đẹp nõn nà.

III. Lục thập hoa giáp mang Hành Thổ:

  1. BÍCH THƯỢNG THỔ tượng nạp âm của Canh Tí, Tân Sửu là đất che nắng mưa, phòng sương ngự tuyết. Chuyên nhờ cậy vào kèo cột và cưa giả. Bích thượng thổ rất mừng được gặp Mộc nhất là Đại lâm mộc, sợ Hỏa thiêu đốt biến nó thành bần tiện, sợ Đại hải thủy chan hòa lụt lội gây đổ nát, điêu tàn.
  2. THÀNH ĐẦU THỔ tượng nạp âm của Mậu Dần, Kỷ Mão là thiên kinh ngọc lũy của vua của tướng với cái hình rồng nằm dài thiên lý, hổ ngồi theo thế tứ duy. Nó đã xong rồi thì cần Lộ bàng thổ bao quanh phù trợ cho địa thế rộng lớn mà không cần hỏa nữa. Nhưng nếu không có Lộ bàng thổ tất phải cần hỏa để khai phá sơn thủy làm cho Thành đầu thổ mang vẻ oai nghiêm.
  3. SA TRUNG THỔ tượng nạp âm của Bính Thìn, Đinh Tị là đất bồi do sông biển. Chỗ trú ngụ của Long sà, nơi biến thiên của hang hốc. Sa trung thổ tinh chất thanh tú cần tất cả các loại Kim nuôi dưỡng cho nó thành đất tốt. Nó cần Thiên thượng hỏa chiếu xuống thêm màu thêm mỡ và Thủy làm cho nó quyện dẻo.
  4. LỘ BÀNG THỔ tượng nạp âm của Canh Ngọ, Tân Mùi rộng rãi bao la bình điền vạn mẫu. Giống ngũ cốc sống nhờ trên đó thảo mộc nhờ nó mà xanh tươi. Nơi có lửa trời sưởi ấm, chất đất ôn hòa để nuôi dưỡng vạn vật. Lộ bàng thổ cần nhất là nước, nước phải có nguồn tưới đều đều rồi đến Thiên hà thủy. Nhưng không ưa Đại hải thủy vì Đại hải thủy không có khả năng tưới thấm mà chỉ phá phách kéo trôi đi tất cả màu mỡ.
  5. ĐẠI DỊCH THỔ tượng nạp âm của Mậu Thân, Kỷ Dậu là đường đường đại đạo, đất bằng phẳng nối liền chín châu, giao thông vạn quốc. Nó cần Lộ bàng thổ phù trì, cần thủy, sông nước bao quanh và núi cao để tạo quý.
  6. ỐC THƯỢNG THỔ tượng nạp âm của Bính Tuất, Đinh Hợi là thứ thổ gạch ngói nhờ Hỏa nung mộc đốt để thành tác dụng che tuyết che sương ngăn mưa ngăn gió. Ốc thượng thổ tối hỉ mộc vì nếu không có mộc làm cái giá chống thì gạch ngói đứng đâu? Cần Bình địa mộc cho nhà thêm vẻ phong phú, trang nhã.
IV. Lục thập hoa giáp mang Hành Thủy:

 

 

6 hành thủy
  1. 19. GIẢN HẠ THỦY tượng nạp âm của Bính Tí, Đinh Sửu. Là nước nguồn chảy thành thác vòng ngàn ngọn núi, băng vạn dặm rừng. Nước thác rất trong sạch tinh khiết, cần kim dưỡng như Sa trung kim tốt nhất. Cần đất làm thành thác nhưng chỉ đất Sa trung mới hay. Chứ đất Lộ bàng và Đại dịch sẽ làm cho nó bị đục.
  2. ĐẠI KHÊ THỦY tượng nạp âm của Giáp Dần, Ất Mão, nước dòng sông lớn cuồn cuộn, sóng cả nhấp nhô, có thượng nguồn và hạ nguồn. Nuôi dưỡng, sợ sự xung động khiến nó thành phiêu lãng kỵ sấm sét Tích lịch hỏa, bão phong.
  3. TRƯỜNG LƯU THỦY tượng nạp âm của Nhâm Thìn, Quí Tị nước chảy thao thao bất tận xuôi về biển đông. Nó cần Kim nuôi nguồn, cần Thổ dựng đê thành lòng sông.
  4. THIÊN HÀ THỦY tượng nạp âm của Bính Ngọ, Đinh Mùi là nước trên trời thành mưa đổ xuống chan hòa khắp nơi tưới cho vạn vật tốt tươi. Thổ không khắc được nó nên Thiên hà thủy không sợ Thổ. Thiên hà thủy chẳng làm cho kim sinh nên gặp kim vô ích. Thiên hà thủy thường đi với Tích lịch hỏa để mà hóa ra vân vũ – cầu vồng.
  5. TUYỀN TRUNG THỦY tượng nạp âm của Giáp Thân, Ất Dậu là nước suối nước mạch mát lạnh trong vắt. Trăm vạn nhà đào giếng múc nước suối mà uống. Thứ nước này do kim tiết và nhờ mộc phát xuất nên hỉ gặp Kim, Mộc. Tuy nhiên kim chất phải ôn hòa chớ sát phạt như Kiếm phong kim. Nó cần gặp Bình địa mộc chứ Tang đổ mộc hay Thạch lựu mộc vô ích.
  6. ĐẠI HẢI THỦY tượng nạp âm của Nhâm Tuất, Quí Hợi là biển rộng mênh mông dung nạp tất cả nước sông ngòi đổ xuống. Nó cần Thiên thượng hỏa ánh dương chiếu xuống làm thành cách Thủy bổ dương quang.
V. Lục thập hoa giáp mang Hành Hỏa:

 

lục thập hoa giáp
  1. TÍCH LỊCH HỎA tượng nạp âm của Mậu Tí, Kỷ Sửu. Đó là lửa hiệu lệnh của chín tầng trời, chớp nhoáng như con kim xà, nhanh như ngựa sắt. Tích lịch hỏa là sấm sét cho nên cần Thiên hà thủy. Tích lịch hỏa có khả năng dưỡng mộc. Theo khoa học bây giờ sấm sét làm chất cho azote thấm xuống lòng đất tạo màu mỡ, nhờ vậy cao mới đủ chất bổ dưỡng.
  2. LƯ TRUNG HỎA tượng nạp âm của Bính Dần, Đinh Mão. Sách có câu trời đất là cái lò, âm dương là than. Lư trung hỏa để nung nấu càn khôn rất ưa Mộc sinh Hỏa và lấy Kim làm chỗ ứng dụng. Có Kim thì Hỏa mới tỏ uy quyền, nhưng nếu vô Mộc mà gặp Kim đa tất Hỏa lao khổ.
  3. PHÚ ĐĂNG HỎA tượng nạp âm của Giáp Thìn, Ất Tị. Là ánh lửa đèn đựng trong kim khí để tỏa chiếu ngọc quang vào những nơi mà nhật nguyệt không soi vào. Để làm sáng lúc trời đất chưa sáng. Thường gọi là nhân gian Dạ minh chi hỏa. Lấy Mộc làm tâm, lấy Thủy làm dầu gặp âm thì tốt, gặp dương bất lợi. Hỏa này rất sợ xung phá vì xung phá là gió táp thổi tắt ngọn đèn. Thủy của Phú đăng hỏa là thứ Thủy đào lên chứ chẳng phải Đại khê hay Đại hải thủy hoặc Thiên hà thủy.
  4. THIÊN THƯỢNG HỎA tượng nạp âm của Mậu Ngọ, Kỷ Mùi là thứ hỏa ấm áp khiến sông núi sáng sủa bởi dương đức lệ thiên chiếu xuống và âm đức xuất hải sáng ra. Thiên thượng hỏa cầu mộc nhất là Đại lâm mộc.
  5. SƠN ĐẦU HỎA tượng nạp âm của Giáp Tuất, Ất Hợi là thứ lửa khai hoang hay lửa rừng đốt cháy thành biển lửa thiêu rụi cỏ cây một vùng. Tại sao gọi là sơn đầu hỏa? Vì sắc của nó đỏ rực chan hòa như lúc mặt trời lặn, còn đang lấp ló đầu ngọn núi. Thiêu xong sơn đầu hỏa cần Thủy để đất khỏi khô. Hỏa này phải nhờ mộc đa mới cháy nếu chỉ có Thổ không thì Sơn đầu hỏa thành vô dụng.
    1. SƠN HẠ HỎA tượng nạp âm của Bính Thân, Đinh Dậu. Đây là thứ hỏa lập lòe của đom đóm. Cho nên Lan đài diện tuyển có đưa ra cách gọi là Huỳnh hỏa chiếu mộc, gặp mùa thu càng quí. Sơn hạ hỏa hỉ Thủy để nhờ Thủy phản chiếu hào quang. Nhưng rất sợ gặp Tích lịch hỏa làm tiêu diệt ánh sáng của nó.
NGŨ HÀNH LỤC THẬP HOA GIÁP – 60 NĂM CUỘC ĐỜI
5 (100%) 1 vote[s]

Hội Tử Vi Sơn Long

Hỗ trợ trực tuyến